Để điều trị, y học cổ truyền dùng các vị thuốc có tác dụng làm hạn chế axit dạ dày, kháng khuẩn, làm lành vết loét dưới đây.
Mai mực: Vị hàm, tính ôn, quy kinh can, thận, có tác dụng thông huyết mạch, trừ hàn thấp, chỉ huyết. Chủ trị: Thổ huyết, nục huyết, cam tẩu mã, băng lậu, đới hạ, đau loét dạ dày hành tá tràng, âm nang lở ngứa. Cách dùng: Ngày 5 - 9g, dạng thuốc bột hoặc phối hợp trong các bài thuốc.
| Nghệ vàng |
Củ nghệ vàng: Vị tân, khổ, tính ôn, quy kinh can, tỳ, có tác dụng hành khí, phá huyết, chỉ thống, sinh cơ. Chủ trị: Kinh nguyệt không đều, bế kinh, đau tức ngực sườn, khó thở. Phụ nữ đau bụng sau sinh do máu xấu không sạch, kết hòn cục hoặc ứ huyết do sang chấn, viêm loét dạ dày tá tràng, vết thương lâu liền miệng. Cách dùng: Ngày từ 6 - 12g, dạng thuốc sắc hoặc bột.
Kê nội kim (lớp màng trong đã phơi hoặc sấy khô của mề con gà): Vị cam, tính bình, quy kịnh tỳ, vị, tiểu trường, bàng quang. Chủ trị: Thực tích không tiêu, bụng đầy trướng, nôn mửa, kiết lỵ, di tinh. Cách dùng: Ngày 5 - 9g, dạng thuốc bột hoặc phối ngũ trong các bài thuốc.
Lương y Nguyễn Văn
(Nguồn : http://bee.net.vn/channel/1992/201108/Cac-vi-thuoc-dieu-tri-viem-loet-da-day-ta-trang-1809731/)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét