Tìm kiếm Blog này

Hiển thị các bài đăng có nhãn tiểu đường. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tiểu đường. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 7 tháng 5, 2011

Nước trà Mêthi Ấn Độ chữa bệnh tiểu đường hiệu quả

 
Tiểu đường là một trong những căn bệnh thời đại, khi đối diện với nó, người bệnh bắt buộc phải chấp nhận những phương pháp điều trị tốn kém, hay có thể nói là ảnh hưởng khá nhiều đến chất lượng cuộc sống. Trà Methi Ấn Độ mang đến cho bệnh nhân tiểu đường niềm hi vọng về một phương pháp ít đau đớn và tốn kém.
Cây Methi (fenugreek,cỏ cà ri hay cỏ Hy Lạp) có tên khoa học là Trigonela foenum graecum thuộc họ đậu. Hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới sử dụng hạt Methi như một loại thực phẩm, gia vị vì nó mang lại lợi ích cho sức khỏe. Hạt Methi được bán ở các cửa hàng thực phẩm, dùng trong khẩu phần ăn hàng ngày.  
Hạt và lá Methi được WHO công nhận là dược thảo có hoạt tính giúp hạ lượng đường trong máu rất tốt. Hạt Methi có thể sử dụng riêng lẻ hay dùng phối hợp với các dược thảo khác để trung hòa các men glucose-6-phosphatase và fructose-1,6-biphosphatase trong gan và thận của người bị tiểu đường. Ngoài ra hạt Methi còn giúp giảm thiểu được một số loại bệnh khác như: làm hạ cholesterol; có khả năng kháng sinh với 26 loại vi trùng; diệt ký sinh trùng sốt rét; có khả năng bảo vệ gan chống tác hại của rượu; ngừa và trị sạn thận; có hoạt tính chống lại bệnh ung thư; trị tạng thận suy yếu; đau bao tử; đau ruột; sưng chân; giúp phát triển vòng một cho giới nữ; dùng cho phụ nữ bị tắc tuyến sữa khi cho con bú; phong thấp gây ra đau khớp khó đi lại.
Nuoc tra Methi An Do chua benh tieu duong hieu qua
Hạt methi Ấn Độ
Như vậy, Methi không những chỉ có công dụng với bệnh tiểu đường mà còn là “khắc tinh” với khá nhiều loại bệnh khác. Nên dùng Methi dưới dạng một thứ thức uống thông thường hàng ngày (trà Methi) vì hiệu quả ưu việt, vì cách chế biến khá đơn giản.    
Cách dùng cho người bệnh tiểu đường:
1.      Cách 1: cho 01 muỗng hạt Methi vào ly nước nóng 50 – 70 độ khoảng 10 phút, sau đó ăn hạt và uống nước 2 – 3 lần/ngày trước bữa ăn 1 giờ.
2.      Cách 2: cho 02 – 03 muỗng hạt Methi vào ấm trà rót nước nóng chờ khoảng 5 phút, uống 2- 3 lần tới khi nước nhạt màu (giống như pha và uống trà).
3.      Cách 3: Cho hạt Methi vào ấm đun sôi 3 – 5 phút, lọc bỏ bả. Uống nóng, để nguội hoặc bỏ vào tủ lạnh để uống trong ngày.
4.      Cách 4: Nếu muốn thơm ngon hơn thì có thể xao vàng rồi hãm nước và uống nóng hoặc đóng chai để tủ lạnh uống như nước lọc trong ngày. Với cách này cần tăng liều dùng lên khoảng 1,2 – 1,5 lần.
Liều dùng:
-         Tiểu đường type 1: 50-100gr/ngày.
-         Tiểu đường type 2: 25-50gr/ngày.
Với những người bình thường, cách dùng rất đơn giản: mỗi ngày lấy khoảng 15 -20g hạt, tán thành bột, pha nước uống, hoặc lấy hạt sống chưa rang, ngâm trong li có chứa 200ml nước lạnh, để qua một đêm cho nở ra, sáng dậy uống hết nước trong ly, bỏ xác. Hạt có mùi thơm như rau cần tây nên rất dễ uống.
Tuy nhiên, cũng có một số lưu ý khi sử dụng trà Methi như: sử dụng nhiều trong ngày có thể có mùi hôi khi đi tiểu; Trẻ nhỏ hoặc phụ nữ mang thai giai đoạn sắp sinh nếu sử dụng hạt Methi có thể dẫn đến việc chuẩn đoán sai bệnh xi rô niệu ở trẻ em sơ sinh do sự hiện diện của sotolone trong nước tiểu.
Như vậy, ngay từ hôm nay bạn đã có thể dùng trà Methi như một thói quen tốt cho sức khỏe với cách chế biến khá đơn giản. Đó cũng là cách bạn thể hiện sự quan tâm đến sức khỏe của mình và người thân. Và dĩ nhiên, trà Methi nên được coi như một người bạn thân thiết trong đời sống gia đình bạn trước sự tấn công của căn bệnh thời đại tiểu đường.
Thúy Hằng (TMDT-VN)
 

Hạt Methi có tác dụng hạ đường huyết

Hạt methi có trị được tiểu đường?
(Báo Sài Gòn tiếp thị, ra ngày 09/04/2011, Mục "Khỏe & Vui") Nhiều người mắc bệnh tiểu đường đang rỉ tai nhau tìm mua một loại hạt có tên Methi - Ấn Độ về uống, với niềm tin đây là “thảo dược trị tiểu đường số một thế giới”. Có thật như vậy không?

Trong trường hợp đang điều trị bệnh mạn tính, trước khi dùng hạt methi cần có sự đồng ý của bác sĩ điều trị.



 







Loại hạt chứa nhiều dưỡng chất

Hạt Methi - Ấn Độ được thu hái từ cỏ cari (có người gọi càri) hoặc khổ đậu, tên khoa học trigonella foenum-graecum L., thuộc họ Đậu – Fabacaeae. Cây thuộc loại bán khô hạn, hiện diện ở nhiều quốc gia như Ấn Độ, Nepal, Pakistan, Bangladesh, Argentina, Hy Lạp, Pháp, Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Quốc... Trong đó, Ấn Độ là quốc gia cung cấp phần lớn thảo dược này.

Tên gọi cỏ cari là do hạt có màu vàng hoặc hổ phách, mùi thơm đặc biệt, được sử dụng làm gia vị trong các món ăn truyền thống Ấn Độ. Còn gọi khổ đậu (nghĩa là đậu đắng) vì hạt có vị đắng, khi dùng thường phải rang thơm để giảm bớt vị đắng. Riêng tên gọi methi, xuất phát từ Ấn Độ. Người Ấn Độ có thói quen uống khoảng 2 – 3g hạt với nước ấm mỗi buổi sáng trước khi đánh răng và điểm tâm, với mục đích giảm đau nhức xương khớp.

  Y học cổ truyền Trung Quốc gọi thảo dược này là hồ lô ba (hu lu ba) có tác dụng làm ấm và bổ thận, tán hàn, giảm đau. Chỉ định chủ yếu với chứng thoát vị. Dùng dưới dạng hạt khô hoặc rang chín. Trong hạt Methi - Ấn Độ chứa nhiều dưỡng chất cần thiết cho cơ thể: đường cao phân tử, chủ yếu galactomannan (44,2%); chất đạm (26,25%); axít béo không no (5,8%); vitamin và khoáng chất (3%), gồm sắt, canxi, phốtpho, magiê, kali, natri, kẽm, đồng, mangan, vitamin C, B1, B2, B5, axít folic…; các acid amino tự do 4-hydroxyisoleucine (0,09%), histidine, arginine, lysine, tryptophan... Một số thành phần có hoạt tính sinh học: saponin (diosgenin, yamogenin, gitogenin, tigogenin, neotigogen), alakloid (gentianin, trigonellin, carpain), flavoinoid (apigenin, luteolin, orientin, quercetin, vitexin, isovitexin), tinh dầu, chất xơ…

Về công dụng chữa bệnh của methi

    Hạt Methi - Ấn Độ được sử dụng làm thuốc, gia vị, dầu gội đầu ở nhiều quốc gia Tây Âu và châu Phi. Kinh nghiệm dân gian cho thấy Methi - Ấn Độ có tác dụng hỗ trợ tiêu hoá, hạ mỡ máu (cholesterol và triglycerid), giảm đường huyết. Một vài báo cáo thử nghiệm lâm sàng cho thấy uống khoảng 25 – 50g hạt methi khử béo mỗi ngày, làm tăng hiệu quả giảm đường huyết ở bệnh nhân đang áp dụng các liệu pháp điều trị thông thường (người bệnh đang dùng insulin hoặc các thuốc hạ đường huyết khác).
WHO ĐÃ công nhận Methi - Ấn Độ hạ đường huyết


Cơ chế hạ đường huyết có thể là do hiệu ứng ức chế sự hấp thu glucose tại ruột, ức chế vận chuyển glucose, kéo dài thời gian làm rỗng dạ dày, hoặc cải thiện hoạt tính ngoại vi của insulin. Trong hạt Methi - Ấn Độ có một axít amin được gọi là 4-hydroxyisoleucine, có tác dụng kích thích quá trình sản xuất insulin của tuyến tuỵ. Một số alkaloid (gentianin, trigonellin, carpain) có tác dụng làm giảm tính kháng insulin, giảm nồng độ đường trong máu. Cũng có giả thiết cho rằng, hạt methi làm gia tăng số lượng thụ thể insulin trong các tế bào hồng cầu. Đường cao phân tử galactomannan trong hạt Methi - Ấn Độ làm chậm tốc độ hấp thu đường vào máu, giảm cholesterol, giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Chất xơ chiếm khoảng 3% trong hạt Methi - Ấn Độ có vai trò quan trọng trong kiểm soát đường và mỡ máu ở phụ nữ đái tháo đường thai kỳ.

Tác dụng phụ và tương tác thuốc

Bất lợi thường gặp nhất khi sử dụng hạt methi là mồ hôi, nước tiểu bị thay đổi màu và có mùi cari do thành phần sotolon trong tinh dầu. Cũng đã có một vài người bị dị ứng với hạt methi. Triệu chứng dị ứng bao gồm khó thở, phát ban, hẹp thanh quản, phù lưỡi, phù mặt và môi. Nếu nghi ngờ dị ứng hạt Methi - Ấn Độ, cần nhanh chóng liên lạc với bác sĩ.

Các thành phần trong hạt methi cũng có thể tương tác với nhiều loại thuốc khác, vì thế trong trường hợp đang điều trị bệnh mạn tính, trước khi dùng hạt Methi - Ấn Độ cần có sự đồng ý của bác sĩ điều trị. Uống chung hạt methi với các thuốc hạ đường huyết khác cũng có thể gây tụt đường huyết dưới mức bình thường, đây là một sự cố y khoa khá nguy hiểm.

Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã công nhận tác dụng hạ đường huyết của hạt Methi - Ấn Độ. Tuy nhiên, cho đến nay cơ quan Quản lý thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) vẫn chưa chấp thuận sử dụng hạt này làm thuốc, do chưa đủ các chứng cứ về hiệu quả và tác dụng phụ. Các nghiên cứu về tác động dược lý của hạt Methi - Ấn Độ đối với bệnh đái tháo đường hiện vẫn đang tiếp tục, để có câu trả lời về vai trò thực sự của loại thảo dược này.

PGS.TS.DS Nguyễn Phương Dung
Phó trưởng khoa y học cổ truyền; trưởng bộ môn bào chế,
Đại học Y dược TP.HCM


(Nguồn : http://www.methiseed.com/?gclid=CILZ3-b6z6gCFU4NHAodnRFKgQ)

Sử dụng hạt Methi để chữa tiểu đường - nên cẩn trọng

Cẩn trọng với hạt methi!

Tại Việt Nam, chưa có nghiên cứu chính thức về công dụng chữa bệnh của hạt methi

Vài tháng trở lại đây, nhiều người mắc bệnh tiểu đường rỉ tai nhau về công dụng chữa bệnh thần kỳ của một loại hạt gia vị có xuất xứ từ Ấn Độ - hạt methi (còn gọi là hạt cà-ri) - với hy vọng đẩy lùi bệnh tiểu đường. Tuy nhiên, tác dụng thật của loại hạt này ra sao vẫn còn là một câu hỏi lớn.


Trị bách bệnh?!


Theo hướng dẫn của một người bạn bị tiểu đường đang dùng hạt methi mỗi ngày, chúng tôi vào mạng gõ từ khóa “hạt methi”, kết quả hiện ra hàng trăm đường link website có bài viết giới thiệu về nguồn gốc xuất xứ, công dụng chữa bệnh của loại hạt này kèm theo đó là các số điện thoại liên lạc, địa chỉ bán hàng trực tiếp và qua mạng. Một số website còn hướng dẫn cách chế biến các món ăn từ hạt này như nấu canh, nấu chè, cháo, pha nước uống…
Hạt methi được quảng cáo và rao bán nhiều trên mạng


Tại một website, hạt methi được giới thiệu là “thuốc quý” của những bệnh nhân tiểu đường với tác dụng như giảm số lần tiểu tiện, chống giảm cân đột ngột, tăng đề kháng, giảm mệt mỏi và đặc biệt có tác dụng giảm tới 54% lượng đường trong nước tiểu người bệnh; chữa được bệnh sỏi thận, đau bao tử, sưng chân, tăng tiết sữa… hạt methi còn giúp tăng cường hệ miễn dịch, bổ sung vi chất và giúp chống ô xy hóa tế bào cơ.


Nếu người bình thường không có bệnh tật gì thì dùng hạt methi để… phòng ngừa bệnh tật, tốt cho não, cải thiện chứng chán ăn và dưỡng da, thậm chí là trị gàu, nhuận tràng…


Coi chừng tiền mất tật mang


Đem thắc mắc về hạt “thần dược” methi trao đổi với thạc sĩ – dược sĩ Trần Văn Trễ, Trưởng Khoa Dược – Viện Y Dược học Dân tộc TPHCM, chúng tôi được biết tại Việt Nam, công dụng chữa bệnh của hạt này chưa được nghiên cứu và thể hiện trong y văn. Dược sĩ Trần Văn Trễ cho biết thêm hiện tại, Viện Y Dược học dân tộc không sử dụng hạt này như một vị thuốc trong điều trị bệnh tiểu đường hoặc các bệnh liên quan đến đường huyết. Vì vậy, bệnh nhân, người dân cần thận trọng khi sử dụng hạt methi để tránh “tiền mất tật mang”, nhất là không được chủ quan vào những biểu hiện thuyên giảm bệnh nếu có khi dùng


hạt methi mà lơ là theo dõi, điều trị bệnh.


Được biết, hạt methi có tên khoa học là trigonella foenum - graecim L., thuộc họ đậu. Cây thuộc loại bán khô hạn, hiện diện nhiều ở Ấn Độ, Nepal, Pakistan, Bangladesh, Argentina, Hy Lạp, Pháp, Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ… Kinh nghiệm dân gian cho thấy hạt có tác dụng hỗ trợ tiêu hóa, hạ mỡ máu, giảm đường huyết, bổ thận, giảm đau. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã công nhận tác dụng hạ đường huyết của hạt methi nhưng đến nay, Cơ quan Quản lý thuốc và thực phẩm Mỹ (FDA) vẫn chưa chấp thuận sử dụng hạt này làm thuốc do chưa đủ chứng cứ khoa học về hiệu quả và tác dụng phụ.
Ngoài ra, các nghiên cứu về tác động dược lý của hạt đối với bệnh tiểu đường vẫn đang được thực hiện. Cho nên, trước khi có câu trả lời thực sự về vai trò của loại thảo dược này, người tiêu dùng cần hết sức thận trọng khi sử dụng hạt methi.


Bên cạnh đó, mặc dù là một loại hạt gia vị nhưng nếu dùng nhiều, hạt methi cũng có tác dụng phụ như làm cho mồ hôi, nước tiểu có màu cà-ri. Một số người dị ứng với hạt methi sẽ bị khó thở, phát ban, phù lưỡi, mặt và môi. Nghiêm trọng hơn, hạt methi có thể tương tác với nhiều loại thuốc khác; khi uống hạt methi với các thuốc hạ đường huyết khác có thể gây tụt đường huyết xuống dưới mức bình thường, rất nguy hiểm.


Kinh doanh hạt methi siêu lợi nhuận


Hiện có khá nhiều công ty phân phối hạt methi trên thị trường cả nước, nhất là tại các TP lớn như TPHCM, Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng…
Mặc dù hạt được quảng cáo chủ yếu qua mạng, thông qua nhiều đại lý và kênh phân phối nhưng giá bán hạt methi tại thị trường Việt Nam khá thống nhất, ở mức 280.000 - 320.000 đồng/kg. Tuy nhiên, một chủ doanh nghiệp chuyên nhập khẩu và phân phối hạt ngũ cốc, gia vị cho biết anh thật sự “sốc” với giá gốc và giá bán của hạt methi.


Theo anh này, hạt methi ở Ấn Độ chỉ được dùng như một loại gia vị truyền thống, giá xuất khẩu chỉ vài trăm USD/tấn. Trong khi đó, khi nhập về Việt Nam, hạt methi được quảng cáo rầm rộ là có công dụng chữa bệnh, giá bán đẩy lên 320.000 đồng/kg, tương đương hơn 15.000 USD/tấn.
Với món hàng siêu lợi nhuận như vậy, nhiều doanh nghiệp phân phối liên tục quảng cáo, hướng người dân quan tâm và tin vào công dụng chữa bệnh của hạt methi để  bán hàng, thu lợi.
Thanh Nhân

Thứ Hai, 2 tháng 5, 2011

Gạo lứt muối mè có trị bách bệnh?

Gạo lứt muối mè có trị bách bệnh?

(TNTS) Một số bạn đọc gửi thư về Báo TNTS hỏi có phải dùng gạo lứt muối mè sẽ trị được bách bệnh hay không?

Công dụng


Hạt gạo lứt khác hạt gạo trắng ở chỗ vẫn còn nguyên cả phôi (mầm) và lớp vỏ cám. Theo lương y Vũ Quốc Trung, lớp vỏ cám và phôi chỉ chiếm khoảng 10% khối lượng hạt gạo, nhưng lại là phần chứa nhiều chất dinh dưỡng và các vi chất. Lớp vỏ cám và phôi rất giàu vitamin, đặc biệt là vitamin nhóm B, vitamin E, có khoảng 120 antioxidant (chất chống oxy hóa) và hàng trăm các hợp chất tự nhiên có liên quan đến quá trình chuyển hóa. Gạo lứt là sản phẩm giàu Gama Oryanol - là chất chống oxy hóa cực mạnh, có tác dụng hấp thụ tia cực tím (UVB) để bảo vệ da, làm giảm lượng cholesterol trong máu, ngăn chặn sự tích tụ tiểu cầu nên có tác dụng điều trị các bệnh về tim mạch, giúp giảm huyết áp, hạ cholesterol và điều hòa nhịp tim.

Lương y Vũ Quốc Trung cho biết, gạo lứt có những công dụng sau: Điều hòa đường huyết, phòng bệnh tiểu đường - do gạo lứt có tốc độ tiêu hóa và hấp thụ glucose chậm hơn, chỉ số glucemic thấp hơn nhiều so với gạo trắng, nên giúp giảm tính kháng insulin. Ngoài ra còn làm giảm cholesterol máu và ngăn ngừa các bệnh tim mạch, do trong gạo lứt có chứa một số hợp chất tự nhiên, các antioxidant, chất xơ, carotenoit, phytosterol, omega 3... những chất này có tác dụng ngăn ngừa sự tích tụ tiểu cầu, nên nó là trợ thủ đắc lực cho những người mắc bệnh tim mạch (cao huyết áp, xơ vữa động mạch, hẹp mạch vành, rối loạn nhịp tim...). Tác dụng khác là cải thiện tiêu hóa, do chất xơ có trong gạo lứt giúp cho việc tiêu hóa, hấp thụ được cải thiện, tăng nhu động của dạ dày, ruột. Ăn gạo lứt có tác dụng phòng ngừa và chữa trị các chứng táo bón, đau dạ dày, rất có lợi cho sức khỏe. Các hợp chất tự nhiên sterol, sterolin, omega 3, 6, 9 có trong gạo lứt làm tăng hoạt động của tế bào sát thủ tự nhiên đề kháng ung thư và phục hồi suy giảm chức năng miễn dịch, nâng cao sức đề kháng của cơ thể chống lại ung thư và bệnh tật. Ngoài ra còn có IP6, axit panganic (vitamin B15) là những nhân tố công phá tế bào ung thư, ức chế sự phát triển của tế bào này.

Mè (vừng) ăn kèm gạo lứt là loại thực phẩm rất giàu protein, lipit và nhiều vitamin, khoáng, giàu canxi...

Có trị bách bệnh?

Việc dùng gạo lứt và muối mè là điều tốt không thể chối cãi. Nhưng ăn như thế nào, có thể chữa được bách bệnh hay không là vấn đề cần được nói rõ. Lương y Vũ Quốc Trung cho rằng, nhu cầu dinh dưỡng của con người rất đa dạng và phong phú. Ngoài thành phần dinh dưỡng cơ bản là protein, lipit, gluxit, vitamin, và khoáng chất, hằng ngày cơ thể cần có rất nhiều chất khác nhau với một nhu cầu hằng định và một tỷ lệ cân đối để sống và hoạt động. Nếu thiếu một thứ nào đó thì sẽ phát sinh ra bệnh tật tương ứng. Do vậy, việc chỉ dùng gạo lứt, muối mè thì không thể nào cung cấp đầy đủ và cân đối về tỷ lệ các nhu cầu dinh dưỡng được mà phải phối hợp, bổ sung với nhiều thực phẩm khác. Trên thực tế có người chỉ ăn duy nhất gạo lứt, muối mè lâu ngày đã bị suy dinh dưỡng, suy nhược cơ thể.

Việc nhiều người cho rằng, chỉ ăn duy nhất gạo lứt, muối mè sẽ chữa được bách bệnh, đó là cách nói thổi phồng, không có cơ sở. Bởi một lẽ đơn giản là có rất nhiều bệnh tật và do nhiều nguyên nhân gây ra, cách chữa trị và dùng thuốc cũng thiên hình vạn trạng, nên không thể có chuyện gạo lứt, muối mè chữa được bách bệnh. Cách hiểu đúng nhất là gạo lứt, muối mè có thể phòng ngừa và chữa trị chứng rối loạn chuyển hóa như chứng máu cao, mỡ nhiễm máu, xơ vữa động mạch, do đó tốt cho những người mắc bệnh tiểu đường và các bệnh về tim mạch.

Thanh Tùng - Theo thanhnien.com.vn

Thứ Sáu, 22 tháng 4, 2011

Cây vú sữa đất có tác dụng hạ đường huyết



Vu sua dat co danh bai tieu duong?
LTS: Trong thư gửi về chuyên trang Khỏe & Vui, bà Lê Thị Thu Giang (Hóc Môn, TP.HCM) cho biết, một số người quen của bà đang chỉ nhau bài thuốc lấy cây vú sữa đất phơi khô, sao vàng sắc uống, giúp đường huyết của người bị bệnh đái tháo đường trở lại bình thường. Bà Giang thắc mắc không biết nếu uống thử thì có nguy hiểm? Chúng tôi giới thiệu ý kiến giải đáp của TS.DS Nguyễn Phương Dung, trưởng bộ môn bào chế, khoa y học cổ truyền, đại học Y dược TP.HCM.
------------------
Mặc dù có bằng chứng khoa học nhưng để kiểm soát hiệu quả đường huyết ở bệnh nhân tiểu đường, cần có sự kết hợp của nhiều chế độ: sinh hoạt, tập luyện, dinh dưỡng... chứ không chỉ dùng mỗi cây vú sữa đất.
     Vú sữa đất có tên khoa học là Euphorbia hirta L., họ thầu dầu – Euphorbiaceae, một loại cây mọc hoang dại nơi vùng đất ẩm, bên lề đường ở các nước nhiệt đới.
Vú sữa đất còn có tên gọi khác là cỏ sữa lá lớn, do cây này có nhựa mủ màu trắng như sữa và được nhân dân sử dụng với mục đích thông sữa, lợi sữa cho bà mẹ mới sinh con.
Ở châu Mỹ, người ta quen gọi là cây hen suyễn ( Asthma herb ), do các thầy thuốc bản địa sử dụng cây này để điều trị một số bệnh đường hô hấp như hen suyễn, ho, sổ mũi, viêm phế quản... Người Ấn độ và Việt Nam thường sử dụng toàn cây tươi để tẩy giun cho trẻ em, điều trị các chứng rối loạn tiêu hóa, kiết lỵ, lậu, vàng da, mụn nhọt,… Rễ cây vú sữa đất được sử dụng để chữa bong gân, viêm nhiễm, sẩy thai,…
          Cho đến nay, các nhà khoa học đã xác định thành phần hóa học chủ yếu có trong cây vú sữa đất là các flavonoid (quecitrin, quercetol), terpenoid, coumarin, tannin, glycosid trợ tim, triterpene (phytosterol), diterpene (phorbol ester); alken, phenolic acid, shikimic acid (shikimic acid), choline… Và nhiều tác dụng dược lý cũng đã được chứng minh: thông sữa; cải thiện hô hấp; kháng khuẩn, giảm nhu động ruột; kháng viêm; kháng nấm; điều hòa miễn dịch; ức chế tinh trùng… Dịch chiết cồn vú sữa đất còn có khả năng gây độc tế bào chọn lọc đối với một số dòng tế bào ung thư như u hắc tố ác tính, ung thư biểu mô vẩy... Ngoài ra, dịch chiết nước của loại cây này còn có tác dụng ức chế aflatoxin trên một số ngũ cốc như gạo, lúa mì, lúa mạch, bắp, đậu phộng,…
       Về công dụng điều trị bệnh đái tháo đường (tiểu đường), các thử nghiệm in vitro và in vivo đã chứng minh cơ chế hạ đường huyết của dịch chiết cồn và phân đoạn ethyl acetate chiết xuất từ vú sữa đất, có liên quan đến khả năng chống oxy hóa và ức chế α-glucosidase. Trong khi đó, các phân đoạn n-hexane, chloroform, butanol và dịch chiết nước không thể hiện tác dụng này. Kết quả thực nghiệm này cho thấy vú sữa đất có triển vọng trong điều trị đái tháo đường. Tuy nhiên, cần hết sức lưu ý, hiệu quả kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường là sự kết hợp của nhiều chế độ: sinh hoạt, tập luyện, dinh dưỡng, sử dụng thuốc. Vì thế, bên cạnh việc phải nhận biết chính xác, chống nhầm lẫn cây thuốc, điều quan trọng nhất là không nên tự sử dụng bất kỳ một loại thuốc nào khi chưa có tham vấn của bác sĩ điều trị.
      Coi chừng nhầm với cỏ sữa lá nhỏ!

Cây cỏ sữa lá nhỏ
Euphorbia là một chi khá lớn trong họ thầu dầu, một số loài khác cũng có tác dụng tương tự nhưng lại chứa các diterpene ester có độc tính. Riêng ở Việt Nam, có một số cây khác cũng gọi là cỏ sữa (do thân có nhựa mủ trắng), như: Euphorbia microphylla – cỏ sữa lá tròn; Euphorbia hypericifolia – cỏ sữa lá ban; Euphorbia thymifolia – cỏ sữa lá nhỏ,… Một số người đã nhầm cây vú sữa đất với cỏ sữa lá nhỏ (Euphorbia thymifolia Burm.), cây này cũng có tác dụng thông sữa, cầm tiêu chảy, kiết lỵ, tẩy giun… nhưng chưa có tài liệu nào chứng minh hiệu quả giảm đường trong máu.
Có thể phân biệt vú sữa đất với cỏ sữa lá nhỏ qua hình thái thực vật:

Vú sữa đất: toàn cây có lông ráp, màu xanh hoặc nâu đỏ và có nhựa mủ trắng. Lá thường có màu xanh, mọc đối, cuống ngắn, phiến lá hình mũi mác, dài 40 – 50mm, rộng 7 – 15mm, mép có răng cưa nhỏ. Gốc cuống lá có hai lá kèm nhỏ hình lông cứng. Nhiều cụm hoa hình chén nhỏ ở các nách lá. Mỗi chén mang các hoa đơn tính. Quả nhỏ, đường kính 1,5mm, khi già nứt thành ba mảnh, mang ba hạt rất nhỏ.
Cỏ sữa lá nhỏ: thân màu đỏ tím, hơi có lông, mọc bò tỏa rộng trên mặt đất, có lông ít và có nhựa mủ trắng. Lá nhỏ, màu đỏ nâu, mọc đối, hình bầu dục có răng ở mép, có lông ở mặt dưới, dài 7mm, rộng 4mm. Cụm hoa dạng xim co, ít hoa ở nách lá. Quả nang, đường kính 1,5mm, có lông. Hạt nhẵn, có bốn góc lồi, dài 0,7mm.

Các loại lá ,quả có tác dụng hạ đường huyết dễ tìm

Có những cây cỏ quanh nhà như: mướp đắng, nha đam, húng quế… tưởng bình thường nhưng lại là những loại cây, quả được Đông y chứng minh có tác dụng chữa và giúp giảm bớt các triệu chứng do tiểu đường gây ra.
Khổ qua (mướp đắng)
Nếu bạn đang bị bệnh tiểu đường type 2, hãy uống một ly nước ép khổ qua tươi mỗi ngày. Khổ qua không những giúp giảm lượng đường huyết trong máu cho bệnh nhân tiểu đường mà theo nhiều nghiên cứu, loại quả này còn có tác dụng phòng chống ung thư, bệnh tim mạch, thần kinh…
Cây cà ri (tên gọi khác là hồ lô ba)
Cà ri là một loại gia vị truyền thống của người Ấn Độ. Loài cây này cũng được trồng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới.
Tương tự như khổ qua, cà ri cũng mang tính đắng nhưng nhẹ hơn. Tác dụng chữa bệnh tiểu đường từ phần lá và hạt cà ri đã được chứng minh qua các nghiên cứu trước đây.
TS. Deepali Shastri (bác sĩ y học cổ truyền Ấn Độ) cho biết: Bệnh nhân tiểu đường có thể hạ đường huyết bằng cách lấy một muỗng cà phê hạt cà ri đem ngâm vào cốc nước, để qua đêm, sau đó lọc lấy nước uống. Cũng có thể uống cùng với hạt, tuy nhiên nhớ uống vào đầu mỗi buổi sáng trong ngày.
Nha đam hay còn gọi cây lô hội, có tính hàn, vị đắng. Nha đam có nhiều tác dụng chữa bệnh như: chữa bỏng, cao huyết áp, giải nhiệt cơ thể. Chất đặc quánh trong thân cây này còn là một phương thuốc hay tại nhà giúp chữa bệnh tiểu đường.
Nha đam (lấy phần thịt bên trong thân), lá nguyệt quế trộn với nửa muỗng nghệ. Dùng hỗn hợp này cách một tiếng đồng hồ trước bữa ăn trưa hoặc ăn tối sẽ giúp bạn kiểm soát lượng đường huyết.
Cây húng quế

Húng quế và tía tô cũng có tác dụng kiểm soát bệnh tiểu đường. Lấy một nắm lá húng quế vò nát, đem luộc trong một ly nước từ đêm trước, để lọc uống vào sáng hôm sau.
Nhai một vài lá húng quế trong ngày cũng cho tác dụng tương tự.
Lá xoài
Lấy khoảng 3-4 lá xoài, rửa sạch, đun sôi, để qua đêm trong nước. Sau đó lọc nước này uống vào đầu buổi sáng trước bữa điểm tâm. Nên nhớ không áp dụng phương thuốc này nhiều lần trong một ngày, vì có thể giảm lượng đường huyết quá thấp gây ra chứng hạ đường huyết khá nguy hiểm.
Phương thuốc trên nếu thực hiện đều đặn và điều độ còn giúp chữa bệnh cảm sốt, đau ốm nhẹ.
Theo Nguyệt Hương
(Nguồn :http://www.toquoc.gov.vn/Thongtin/Thuoc-Viet/Cay-Thuoc-Chua-Tieu-Duong.html)-(Tintuconline)

Dây thìa canh - Cây thuốc quý chữa bệnh tiểu đường

Trong vài thập niên gần đây cùng với sự phát triển của đời sống, số người mắc bệnh tiểu đường gia tăng nhanh chóng, thực sự trở thành mối lo ngại rất đáng báo động trên phạm vi toàn thế giới.

Theo điều tra xã hội học toàn quốc năm 2002, tỷ lệ măc bệnh tiểu đường của người từ 30 tuổi đến 64 tuổi của Việt Nam là 2,7% (gần 2 triệu người), riêng khu vực thành thị tỷ lệ mắc bệnh tiểu đường là 4,4%, trong đó tỷ lệ bệnh nhân chưa chẩn đoán bệnh và điều trị là 64,6%. Nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời, bệnh dễ gây ra những biến chứng nguy hiểm, 44% người bệnh tiểu đường ở nước ta bị biến chứng thần kinh, 71% biến chứng về thận, 8% bị biến chứng về mắt, ngoài ra còn các biến chứng về tim mạch, khớp… Các biến chứng này thường tạo nên các di chứng nguy hiểm có thể dẫn đến tàn phế suốt đời hoặc tử vong.

Dây thìa canh - cây thuốc quý

Dây thìa canh, có tên khoa học là gymnema sylvestre, 1 loại cây dây leo, thân gỗ, được sử dụng tại Ấn độ, Trung quốc hơn 2000 năm nay để trị bệnh nước tiểu ngọt như mật, nó còn có tên Gurmar, có nghĩa là kẻ huỷ diệt đường. Dây thìa canh được biết đến và sử dụng rộng rãi tại nhiều nước như Ấn độ với tên Diabeticin, Mỹ với tên Sugarest, Singapore với tên Glucos care, Nhật Bản, Trung Quốc, Úc…

Hoạt chất chính trong Dây thìa canh là gymnemic acid, với cơ chế tác dụng của đã được xác định là tăng tiết insulin của tuyến tuỵ, tăng cường hoạt lực của insulin, ức chế hấp thu glucose ở ruột, làm tăng hoạt tính của men hấp thu và sử dụng đường, giảm cholesterol và lipid máu.

Đến nay đã có khoảng 70 nghiên cứu về Dây thìa canh trên thế giới, bao gồm cả nghiên cứu trên động vật và người, các nghiên cứu đã cho thấy tác dụng giảm đường huyết rất rõ rệt của Dây thìa canh.

Dây thìa canh tại Việt Nam

Tại Việt Nam, từ năm 2006 các nhà khoa học thuộc Trường Đại học Dược Hà Nội do tiến sĩ Trần Văn Ơn, phụ trách bộ môn Thực vật chủ trì đã lần đầu tiên điều tra phát hiện Dây thìa canh tai 1 số tỉnh miền Trung và miền Bắc Việt Nam. Nhận thấy đây là 1 cây thuốc quý, nhóm nghiên cứu đã tiến hành thu thập mẫu, phân loại, nghiên cứu thành phần hoá học, tổ chức nuôi trồng để tạo nguồn dược liệu sạch, ổn định để sản xuất sản phẩm phục vụ người bệnh sản phẩm dạng viên nang tiện dùng cho người bệnh.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Kết quả nghiên cứu đề tài được công bố trên tạp chí Dược học - Bộ y tế số 391 tháng 11/2008 cho thấy dây thìa canh tại Việt Nam cũng cho tác dụng hạ đường huyết như dây thìa canh ở nhiều nước khác. Tác dụng hạ đường huyết của dây thìa canh có những điểm tương đống như insulin nhanh: đỉnh tác dụng hạ đường huyết ở 2h và duy trì đến 4h; mức độ hạ đường huyết tương đương ở thời điểm 2h và 4h. Ngoài ra trên một số nghiên cứu khác cho thấy tác dụng giảm cholesterol máu giảm béo phì cũng rất hiệu quả.

Như vậy dây thìa canh có thể ứng dụng điều trị cho cả bênh nhân tiểu đường týp 1 hoặc týp 2 phối hợp với các thuốc điều trị khác để kiểm soát và làm giảm đường huyết, ổn định kéo dài hàm lượng đường huyết, phòng ngừa biến chứng, giảm cholesterol và lipid trong máu, nâng cao đời sống tình dục của bệnh nhân tiểu đường Nam giới. Hiệu quả sẽ rất khả quan đạt được sau đợt dùng 2-3 tháng, kết hợp với chế độ ăn uống và tập thể dục đều đặn.

Có thể nói việc tìm ra cây Dây thìa canh tại Viêt Nam - một dược liệu quý hiếm, phòng ngừa và hỗ trợ điều trị tiểu đường và mỡ máu, mở ra triển vọng lớn ứng dụng các cây thuốc quý Việt Nam cho sức khoẻ con người - một hướng giải pháp an toàn lâu dài cho bệnh nhân tiểu đường luôn sống vui khỏe.

Theo Sức khỏe & Đời sống 

(Nguồn:http://www.khamchuabenh.com/read.php?3394)

Thứ Tư, 20 tháng 4, 2011

Giảo cổ lam -cây thuốc quý chữa bệnh tiểu đường







Giảo cổ lam(Jiaogulan), là một loại dược liệu có tên khoa học là Gynostemma pentaphyllum(Thunb). Makino Cucurbitaceae. Còn có tên là Cam Trà vạn, Thất diệp đởm, cây trường sinh, cây cỏ Thần kỳ, Sâm phương nam, Ngũ diệp sâm. Người Nhật gọi là Phúc âm thảo, hay Amachazuzu. Đây là một dược liệu đầu vị quý được ghi trong sách cổ “Nông chính toàn thư hạch chú” quyển hạ năm 1639. Từ xa xưa được sử dụng cho vua chúa để tăng sức khoẻ , kéo dài tuổi thọ va làm đẹp.


Giảo cổ lam bắt đầu được nghiên cứu từ năm 1976 ở Nhật Bản ,việc phát hiện ra cây là do tình cờ khi nghiên cứu một bộ lạc sống trên núi cao có tuổi thọ bình quân 98 tuổi mà nguyên nhân là do người dân nơi đó thường xuyên uống cây này. Các nghiên cứu về Giảo cổ Lam hiện nay được thực hiện nhiều ở Trung Quốc,Mỹ, Đức, Italia. Có thể liệt kê một số nghiên cứu điển hình như:


- GS. Tan H., Liu Z.L.,Liu MJ. Chứng minh GCL có tác dụng kìm hãm sự tích tụ tiểu cầu, làm tan cục máu đông, chống huyết khối, tăng cường lưu thông máu lên não.


- Lin,J.M.,và cộng sự chứng minh GCL có tác dụng chống viêm gan, chứng cao huyết áp và chống ung thư. Có tác dụng chống viêm mạnh hơn Indomethacin


- Wang C. Và cộng sự chứng minh GCL kìm hãm sự phát triển của khối u mạnh.


Năm 1997 GS. TS. NGND Phạm Thanh Kỳ (nguyên Hiệu trưởng trường đại học Dược Hà Nội, chủ nhiệm bộ môn dược liệu) trong một lần đi công tác tại Lào Cai đã phát hiện thấy cây Giảo Cổ Lam trên núi PhanXipang. Sau khi được GS. NGND Vũ Văn Chuyên xác định tên khoa học chính xác là Gynostemma Pentaphyllum, GS Kỳ đã tra cứu tài liệu và biết rằng đây là một loại dược liệu quí đã đăng ký đề tài nghiên cứu cấp nhà nước và được cấp ngân sách 120 triệu đồng (đề tài có mã số: KC.10.07.03.03).


Kết quả nghiên cứu cho thấy Giảo Cổ Lam có chứa hơn 100 loại Saponin cấu trúc triterpen kiểu damaran, trong đó có nhiều loại có cấu trúc rất giống với Saponin có trong Nhân sâm và Tam thất (vì vậy có tên Ngũ diệp sâm, Sâm nam). Giảo cổ lam còn chứa nhiều Flavonoid, chất có tác dụng sinh học cao và có tác dụng chống lão hóa mạnh. Ngoài ra còn có các Axit amin tan trong nước, nhiều vitamin và các nguyên tố vi lượng như Zn, Fe, Se. Đã thử độc tính cấp, trường diễn, bán trường diễn và xác định cây không có độc.


Các thử nghiệm Giảo Cổ Lam trên chuột và thỏ cho kết quả như sau:


+ Tác dụng giảm mỡ máu (Triglycerid và Cholesterorl): GCL ức chế tăng Cholesterorl 71% theo phương pháp ngoại sinh và 82,08% theo phương pháp nội sinh.


+ Tác dụng tăng lực (nghiệm pháp chuột bơi): GCL làm tăng lực 214,2%.


+ Tác dụng bảo vệ tế bào gan: đã chứng minh GCL bảo vệ tế bào gan mạnh trước sự tấn công của các chất gây độc (CCL4) và làm tăng tiết mật.


+ Tác dụng tăng đáp ứng miễn dịch: GCL làm tăng đáp ứng miễn dịch tế bào khi chiếu xạ hoặc gây độc tế bào bằng hóa chất Cyclophosphamid.


+ Tác dụng hạ đường máu: GCL có tác dụng hạ đường huyết trên chuột nhắt trắng. Trên chuột đái tháo đường di truyền, liều uống 500 mg/kg làm hạ đường huyết 22%, liều 1000mg/kg làm hạ tối đa tới 36%. Trong nghiệm pháp dung nạp glucose ở chuột nhắt trắng, liều uống 1000mg/kg đã ức chế sự tăng đường huyết tới 55% (sau 30 phút) và 63% (sau 60 phút) so với nhóm chứng. GCL gây hạ đường huyết yếu trên chuột bình thường nhưng lại có tác dụng khá mạnh trên chuột có đường huyết cao. Như vậy, ngoài cơ chế làm tăng tiết insulin GCL có thể cũng làm tăng nhạy cảm của mô đích với insulin.


+ Phòng ung thư: tỷ lệ ức chế khối u từ 20-80%, phòng ngừa u hóa tế bào bình thường.


+ Chống suy thoái tế bào: cho dịch chiết GCL vào môi trường vào nuôi cấy tế bào da người, số lần tái sinh tăng từ 20 lên 27 lần, kéo dài tuổi thọ tế bào 22,7%.




Đã tiến hành thử nghiệm lâm sàng tại các bệnh viện TƯ cho thấy:


- Giảo Cổ Lam làm hạ mỡ máu, nhất là đối với cholesterol toàn phần điều trị cho kết quả tốt, ngăn ngừa sơ vữa mạch máu, chống huyết khối vờ bình ổn huyết áp, phòng ngừa các biến chứng tim mạch, não.


- Giảo Cổ Lam làm giảm căng thẳng mệt mỏi, giúp tăng lực mạnh, tăng khả năng làm việc, tăng cường hệ miễn dịch của cơ thể. Cải thiện các triệu chứng cơ năng cho bệnh nhân như giúp ăn ngủ tốt, hạn chế số lần tiểu đêm, nhuận gan, lợi mật, giúp tiêu hóa tốt, hết hoa mắt, chóng mặt, đau đầu do thiếu máu não.


Chính vì tác dụng kỳ diệu cho sức khỏe như vậy nên Giảo cổ lam còn được gọi là cây trường thọ, cây cỏ thần kỳ và được bán ở Trung Quốc và Nhật Bản với giá rất đắt (khoảng một đến bốn triệu đồng 1kg). Việc tìm thấy Giảo Cổ Lam ở Phanxipang Việt Nam minh chứng cho tiềm năng phong phú và đa dạng của dược liệu nước nhà và mở ra một triển vọng to lớn về xuất khẩu dược liệu ( cây Giảo Cổ Lam mỗi năm đem về ngoại tệ lớn cho Trung Quốc và rất được thị trường Mỹ và Châu Âu ưa chuộng).


Giảo cổ lam hiện nay đã có mặt trên thị trường Việt Nam dưới dạng trà túi lọc và dạng viên do tập đoàn Tuệ Linh sản xuất dưới sự cho phép và giám sát của GS.TS Phạm Thanh Kỳ, chủ nhiệm để tài cấp nhà nước về cây GCL. Hy vọng dược kiệu này sẽ đem lại nhiều sức khỏe cho mọi người.
(Nguồn :http://www.tin247.com/giao_co_lam_mot_duoc_lieu_quy_hiem_o_viet_nam-10-137241.html)

Giảo Cổ Lam Việt Nam – Cây thuốc quý cho người tiểu đường


Tiểu đường là loại bệnh lý xuất hiện khi cơ thể có những bất thường về lượng insulin trong máu hoặc do những bất thường ở tế bào đích dẫn đến việc không đáp ứng insulin. Nếu không được điều trị kịp thời, bệnh tiểu đường có thể gây những biến chứng nguy hiểm dẫn đến mù lòa, nhồi máu cơ tim, nhồi máu não, suy thận, hoại tử các chi…

Rất nhiều người bị tiểu đường đã 5 năm trước khi có biểu hiện triệu chứng hoặc biến chứng. Trong khoảng thời gian này, các mạch máu & dây thần kinh ở các cơ quan như mắt, tim, thận, não đã bị tàn phá nghiêm trọng.

Tuy rằng vẫn chưa có cách điều trị triệt để tiểu đường, song việc chẩn đoán sớm để điều trị và đề phòng biến chứng vẫn khả quan hơn rất nhiều. Các thuốc chữa bệnh tiểu đường là con dao hai lưỡi, rất nhạy cảm, nếu không điều trị đúng sẽ gây hậu họa vô lường. Việc điều trị hiện nay có xu hướng kết hợp thuốc tân dược với các dược liệu nhằm hạn chế sự tiến triển của bệnh, ngăn ngừa biến chứng.

Trong một nghiên cứu được sự tài trợ của Cơ quan Hợp tác Phát triển Thuỵ Điển, Hội Đái Tháo Đường Thuỵ Điển, Hội đồng Nghiên cứu Thuỵ Điển và Viện Nghiên cứu Karolinska Institutet, từ dịch chiết của một loại thảo dược thu hái tại Việt Nam có tên gọi Giảo cổ lam, được báo cáo là có rất nhiều tác dụng tốt như tác dụng ngăn chặn sự phát triển của khối u, hạ cholesterol, hạ huyết áp, tăng cường kích thích miễn dịch, chống ôxy hoá và hạ đường huyết. Chúng tôi đã phân tách được một thành phần hoạt tính và chứng minh được rằng hoạt chất được phân tách chính là một saponin mới chưa từng được công bố trên thế giới, chúng tôi đặt tên chất này là phanoside.

Đây là một saponin có cấu trúc kiểu dammarane và có tác dụng kích thích tăng tiết insulin với thử nghiệm được tiến hành trên chuột. Đã xác định được liều phụ thuộc kích thích tạo insulin của hoạt chất này với mức glucose là 3.3 và 16.7 mM. Phanoside với liều 500 µM kích thích tạo ra insulin (trên in vitro) ở mức gấp 10 lần khi lượng glucose là 3.3 mM (mạnh gấp 5 lần hoạt chất glibenclamide, một tân dược chữa tiểu đường). Trong một nghiên cứu khác phối hợp với Khoa y học phân tử viện Karolinska Thụy Điển, chúng tôi đã chứng minh Giảo cổ lam Việt Nam có tác dụng hạ đường huyết khá mạnh đặc biệt là tác dụng chống tăng đường huyết.

Nhận định rất có khả năng là ngoài tác dụng làm tăng tiết insulin, Giảo cổ lam đã làm tăng tính nhạy cảm của mô đích với insulin khi nó bị tổn thương, thường là một trong những nguyên nhân quan trọng gây nên đái tháo đường tuýp 2. Tác dụng này có ý nghĩa rất lớn trong điều trị đái tháo đường đặc biệt là đái tháo đường tuýp 2. Một điều đặc biệt là cây Giảo cổ lam đã được nghiên cứu và sử dụng từ lâu tại Trung quốc, Nhật bản nhưng chỉ đến khi nghiên cứu cây Giảo cổ lam Việt Nam mới phát hiện ra chất Phanosside. Đây là một tin vui cho những bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường trong nước. Điều này cho thấy Dược liệu của nước ta rất tốt và có tiềm năng lớn trong việc chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân.

Được biết cây Giảo cổ lam Việt Nam hiện đã được sản xuất dưới dạng trà và dạng viên nén mang nhãn hiệu Tuệ Linh và đã nhận được nhiều phản hồi tốt từ phía người tiêu dùng, nhất là bệnh nhân tiểu đường, mỡ máu, huyết áp cao và tim mạch. Đây cũng là công ty đầu tiên và duy nhất được GS.TS. Phạm Thanh Kỳ - chủ nhiệm đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước về cây Giảo cổ lam Việt Nam ủy quyền cho sản xuất và chỉ sử dụng nguyên liệu Giảo cổ lam thu hái hoang dã trên những vùng núi cao tại Việt Nam.


TS Nguyễn Duy Thuần - Viện Dược liệu Trung ương
(Nguồn : http://www.tin247.com/giao_co_lam_viet_nam_%E2%80%93_cay_thuoc_quy_cho_nguoi_tieu_duong-10-21348897.html)